Sắt chiếm ít nhất 5% của vỏ trái đất và là một trong những nguồn tài nguyên phong phú của trái đất. Tuy nhiên, Sắt lại là một thành phần không mong muốn trong các nguồn cung cấp nước. Nước mưa khi ngấm vào lòng đất và các tầng địa chất sẽ hòa tan sắt, từ đó sẽ ngấm vào các nguồn nước ngầm, cũng chính là nguồn nước giếng mà hiện tại người dân đang sử dụng rỗng rãi. Mặc dù hiện tại trong nước uống, sắt hiếm khi được tìm thấy ở nồng độ lớn hơn 10mg/l hoặc 10ppm, tuy nhiên nồng độ 0,3 mg / l cũng có thể làm nước có màu nâu đỏ.

Nước ngầm là loại nước rất dễ bị nhiễm sắt hay còn gọi là nhiễm phèn, đặc biệt là các khu vực miền Tây Nam Bộ. Sắt chủ yếu hiện diện trong nước ở hai dạng: hòa tan và không hòa tan. Sắt trong nước uống chủ yếu là không có màu vì nó đã ở dạng hòa tan hoàn toàn. Khi tiếp xúc với không khí, nước bắt đầu chuyển sang đục và có màu nâu đỏ. Trầm tích là một dạng sắt bị oxy hòa không hòa tan trong nước.

Sắt trong nước có các ảnh hưởng sau:

Đối với sức khỏe

- Sắt cơ bản không ảnh hưởng tới sức khỏe ở nồng độ thấp, thậm chí nó còn là một yếu tốt cần thiết cho sức khỏe, giúp vận chuyển oxy trong máu, điển hình là hầu hết nước máy ở Mỹ đều bổ sung khoảng 5% sắt. Nhưng nó được coi như chất gây ô nhiễm thứ cấp hoặc chất gây mất thẩm mỹ cho nước.

Đối với vị giác và thực phẩm

- Sắt hòa tan làm nước có mùi kim loại. Khi sắt kết hợp với trà, cà phê và đồ uống khác, nó làm cho các loại đồ uống này có màu đen và vị rất khó chịu. Nếu các loại rau xanh được chế biến bằng nước nhiễm sắt sẽ làm mất đi màu sắc hấp dẫn vốn có của nó.

Tạo ra các vết cáu bẩn, lắng cặn

- Chỉ cần một nồng độ sắt thấp khoảng 0,3 mg / l trong nước sẽ để lại các vết bẩn màu nâu đỏ trên quần áo và rất khó tẩy. Mặt khác khi nước này chảy qua các ống nước sẽ lắng cặn lại gây gỉ sét và tắc nghẽn trong đường ống.